Các dịch vụ:

* Dụng cụ phẩu thuật: 098.8955.504

* Quảng bá website để có nhiều khách hàng đến website của bạn hơn: Hotline: 0908 744 256 - 0917 212 969 - 08.8816 2969 (Mr Thanh), Email: [email protected] - [email protected]

Dụng cụ phẩu thuật

Tại Bệnh viện Đại học Y dược Tp Hồ Chí Minh, trong thời gian từ 5/1995 -5/2006 đã thực hiện được trên 12000 trường hợp phẫu thuật nội soi gồm 32 loại thuộc 8 chuyên khoa khác nhau, chiếm tỷ lệ 58% trong tổng số phẫu thuật của bệnh viện. Trong số đó nhiều nhất là mổ nội soi cắt túi mật (gần 9000 trường hợp), mổ nội soi cắt nang buồng trứng (trên 1000 trường hợp), mổ nội soi cắt ruột thừa (gần 650 trường hợp), mổ nội soi lấy sỏi đường mật (trên 500 trường hợp), lấy sỏi niệu quản (trên 300 trường hợp), phẫu thuật đại trực tràng nội soi (gần 300 trường hợp), mổ nội soi lồng ngực cắt hạch giao cảm (trên 250 trường hợp)…

Tại Bệnh viện 103 – Học viện Quân y, đã triển khai áp dụng phẫu thuật nội soi lần đầu tiên vào ngày 17/4/1996. Đến nay đã tiến hành được được trên 10000 trường hợp phẫu thuật nội soi gồm trên 30 loại thuộc 8 chuyên khoa khác nhau, trong đó nhiều nhất là mổ nội soi cắt u phì đại lành tính tuyến tiền liệt (trên 3000 trường hợp), mổ nội soi cắt ruột thừa viêm (trên 1000 trường hợp), mổ nội soi cắt túi mật (gần 900 trường hợp), mổ nội soi lồng ngực cắt hạch giao cảm (gần 200 trường hợp), mổ nội soi khớp gối (gần 200 trường hợp, mổ nội soi cắt đại trực tràng (trên 100 trường hợp), nội soi tán sỏi mật qua da (trên 100 trường hợp), mổ nội soi cắt tuyến giáp (gần 100 ca), mổ nội soi cắt tử cung (trên 70 đặc biệt đã mổ nội soi cắt tuyến ức điều trị bệnh nhược cơ được trên 50 trường hợp vơi kết quả tốt.


Ổ cắm mạng AMP


4. Chỉ định và chống chỉ định của phẫu thuật nội soi.

Chỉ định phẫu thuật nội soi

Nhìn chung, có thể tiến hành phẫu thuật nội soi ở đại đa số các bệnh lý ngoại khoa.

- Các loại phẫu thuật nội soi đang tỏ rõ ưu thế với số lượng lớn là cắt túi mật, cắt ruột thừa, cắt nang buồng trứng, cắt u thì đại lành tính tuyến tiền liệt, lấy sỏi niệu quản, cắt chỏm nang gan, nang thận, lấy sỏi đường mật, cắt đại trực tràng, phẫu thuật Heller-Nissen, cắt hạch giao cảm ngực, phẫu thuật nội soi khớp gối, phẫu thuật nội soi chức năng xoang…

- Các phẫu thuật khác cũng đang được áp dụng ngày càng gia tăng như cắt tử cung, cắt thận, cắt tuyến thượng thận, cắt thực quản, cắt dạ dày, cắt tuyến ức, cắt tuyến giáp…

- Các phẫu thuật khó như cắt gan, cắt khối tá tụy… cũng đang bước đầu áp dụng với số lượng còn chưa nhiều.

Chống chỉ định mổ nội soi

- Bệnh lý tim phổi nặng.

- Rối loạn đông máu.

- Nhiễm khuẩn huyết.

- Thoát vị lớn thành bụng.

- Chấn thương có huyết động không ổn định hoặc phối hợp với chấn thương sọ não có nguy cơ tăng áp lực nội soi.

Có 2 loại màn hình là: TFT (mỏng) và CRT, chức năng là hiển thị hình ảnh phẫu trường. Hiện nay sử dụng loại mỏng với độ phân giải cao (nhưng phải phù hợp với độ phân giải của camera). Màn hình được đặt ngang tầm nhìn vơi phẫu thuật viên theo hướng chính diện, nên có 2 màn hình dành cho phẫu thuật viên chính và phẫu thuật viên phụ.

 Hệ thống này gồm ống kính soi, đầu camera và bộ xử lý tín hiệu CCU. Chức năng nhằm truyền tải tín hiệu hình ảnh thu tại phẫu trường tới màn hình.

- Camera – đầu thu CCD (charged coupled device) nhận tín hiệu photon và biến nó thành tín hiệu điện tử electron và phát lại trên màn hình huỳnh quang. Các camera hiện nay thường là loại 3 chip với độ phân giải cao. Cần lưu ý các thông số: độ chói, màu, độ nhậy, độ phân giải và chế độ tự điều chỉnh, vật kính.

- Đầu camera có loại đầu thẳng và đầu gập góc, loại có thể hấp tiệt trùng hoặc không hấp được, loại thể ngâm và loại không ngâm nước, loại có hoặc không có hệ thống kính zoom.

Dụng cụ phẩu thuật


Dụng cụ dùng trong phẫu thuật khá phức tạp và đối với từng ca phẫu thuật bộ phận khác nhau thì có yêu cầu về dụng cụ phẫu thuật khác nhau. Trong bài viết này chúng tôi sẽ chia sẻ những thông tin về các loại dụng cụ dùng trong phẫu thuật cơ bản. Dụng cụ cầm giữ mô có răng hay không có răng. Dựa vào nguyên tắc, dụng cụ có răng có thể gây sang chấn mô. Các dụng cụ có răng nhỏ không hay ít răng gây sang chấn. Tuy nhiên, dụng cụ có răng sẽ có tác dụng cầm giữ mô chắc chắn hơn các dụng cụ không răng.

- Ống kính soi và dây dẫn ánh sáng bằng sợi quang (fiberoptic) hoặc dung dịch lỏng. Ống soi được bọc ngoài bằng thép không gỉ và có các cỡ khác nhau (loại thông dụng hiện nay là 10mm). Vật kính của ống soi có thể là loại nhìn thẳng (0 độ) hoặc nghiêng 30 độ, 45 độ, 70 độ...

Nguồn sáng lạnh (cold light source)

 Với các bóng halogen (ánh sáng vàng) hoặc xenon (ánh sáng trắng, cho hình ảnh trung thực và đẹp hơn). Chức năng của nguồn sáng là chiếu sáng phẫu trường qua dây dẫn sáng và nối vào ống kính soi theo kênh truyền sáng. Nguồn sáng lạnh giúp giữ an toàn cho các tạng trong ổ bụng, giữ được độ bền cho máy. Nên chình mức công suất vừa đủ và không gập gốc dây cáp dẫn sáng, điều chỉnh sáng bằng tay hoặc kỹ thuật số.

5.2 Máy bơm khí CO2

 Máy bơm khí CO2 nhằm tạo và duy trì ổn định không gian phẫu trường.

- Ưu điểm của sử dụng khí CO2 là không gây cháy nổ, ít xảy ra tắt mạch khí (do được đào thải nhanh qua hô hấp), rẻ tiền. Khí CO2 trước khi bơm vào ổ bụng sẽ qua hệ thống sưởi ấm để tránh làm hạ thân nhiệt cơ thể hoặc khi ca mổ kéo dài để làm lạnh kính soi gây đọng sương tại mặt kính.

- Máy có khả năng bơm và duy trì áp lực khí trong ổ bụng ở một mức hằng định, giúp cho trường mổ luôn được ổn định, rõ ràng. Máy bơm khí có 3 cột:

+ Cột áp lực: thường duy trì từ 12-14 mmHg.

+ Cột lưu lượng: thường duy trì 3 lít/phút, có thể trên 10 lít/phút (với trocar 10mm cho khí vào tối đa tới 6-7 lít/phút. Khi CO2 vào nhanh sẽ làm hạ thân nhiệt).

+ Cột tổng lượng hơi: từ 50-200 lít, thường sau bơm 300ml sẽ mất vùng đục trước gan.

5.3 Hệ thống hút rửa

 - Hệ thống hút rửa thực hiện tưới và hút có điều khiển nhằm làm sạch phẫu trường trong lúc tiến hành phẫu thuật nội soi.

- Lưu lượng của hệ thống càng cao càng tốt, dòng nước hút và rửa không chạy qua thiết bị mà được dẫn truyền qua hệ thống óng dẫn Học bằng silicon.

- Chú ý không để lọt dịch trong máy và sử dụng đúng loại dây để tránh bị xẹp.

Phun mí mắt


5.4 Máy cắt đốt.

Hệ Thống Thiết Bị Và Dụng Cụ Phẫu Thuật Nội Soi

 Nhằm kết nối với các dụng cụ phẫu thuật để cắt đốt, cầm máu. Chế độ đốt cầm máu gồm: đốt thông thường (normal), đốt nhẹ (soft), đốt bề mặt (spray); chế độ cắt gồm: cắt đơn thuần (pure), cắt phối hợp (blend)…

5.5 Các loại dụng cụ phẫu thuật nội soi

 Gồm trocar, ống giảm, kéo, các loại phanh, kẹp phẫu thuật, móc đốt điện (hook). Các dụng cụ nội soi được phân loại: có khóa hoặc không, chấu cắm điện cực (theo tay cầm) đơn cực hoặc lưỡng cực, dùng một lần hoặc nhiều lần…

- Các dụng cụ nội soi: thường có bộ phận cán tay cầm (có cơ cấu xoay, có bộ phận nối với dao diện và có thể khóa hoặc không) và hàm dụng cụ có các chức năng khác nhau: panh phẫu tích (dissector), kẹp phẫu thuật (grasper), kéo, kìm kẹp clip (clip applicator), kìm kẹp kim, kìm lấy bệnh phẩm.

- Trocar; là cửa để đưa dụng cụ vào. Trocar có thể hình nón nhọn, hình tháp, hình xoắn và có loại đầu tù (dùng trong kỹ thuật "mở" hay kỹ thuật Hasson hoặc khi đặt lại các ống trocar tuột ra khỏi ổ bụng); có loại dùng nhiều lần và loại dùng một lần. Đường kính của trocar có thể thay đổi từ 3-20mm, nhưng loại 10mm và 5mm kà được sử dụng nhiều hơn cả. Hầu hết các ống trocar (canulla) đều có một miếng cao su ở phía đầu ống để khi đưa kính soi hay dụng cụ vào thì khí trong bụng không xì ra.

5.6 Các dụng cụ và thiết bị hỗ trợ khác.

- Dao điện: đơn cực hay lưỡng cực (chỉ làm cháy ở phần giữa 2 cực), dao hàn mạch (có bộ phận điều chỉnh biên độ dao động) với tần số thích hợp có tác dụng biến chất collagen thành coagolum làm tác các mạch máu nhỏ, có thể đốt và cắt đồng thời.